MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

 

Tê Đê Tê
PCT 65

 

 

Mùa hè năm 1965, trước kỳ thi tú tài 2 khoảng 3 tháng, tôi âm-thầm, lặng-lẽ rời khỏi lớp Đệ nhất A, trường Phan chu Trinh, Đà nẵng, để vào Quân trường. Mối tình của tôi với trường không trọn vẹn, tôi là kẻ đến muộn và chia tay hơi sớm. Cuộc tình dang-dỡ đó đã để lại trong tâm khảm tôi biết bao kỷ-niệm êm-đềm về Trường, về Thầy Cô, và Bạn hữu.

Năm 1959, gia đình tôi đổi về Đà nẵng, do đó tôi phải chuyển trường về PCT. Một buổi sáng, nắng thu vàng ấm, thằng học trò nhỏ nhoi, áo trắng, quần xanh, rụt-rè ôm cặp bước vào lớp Đệ lục 1, Trường Trung Học PCT/DN, trước bao cặp mắt tò-mò quan-sát của các bạn trong lớp. Là lính mớí, tôi ngỡ-ngàng xao-xuyến với bao câu hỏi trong đầu về học hành, về sinh hoạt, về bạn bè, .... Nhưng rồi sự ngỡ-ngàng ban đầu qua rất nhanh, tuổi trẻ dễ kết thân, chỉ tuần lễ sau, chúng tôi đã quen mặt, biết tên nhau, đã cùng nhau trao đổi tâm-sự (đối với các bạn trai thôi, còn các cô thì chưa dám nói chuyện, còn sợ lắm!).

Lớp Đệ lục 1 nằm ở phòng cuối cùng của dãy nhà ngang, bên trái phòng Giáo sư, nhìn từ ngoài cổng vào, sau lưng là dãy nhà để xe-đạp, hàng rào kẽm gai bao-bọc. Suốt những năm Đệ nhất cấp, chúng tôi đều học ở dãy phòng nầy, dù có xê dịch đôi chút. Bước vào lớp, 4 bàn đầu bên phải nhìn lên bàn giáo sư, dành cho nữ-sinh : Nguyễn thị ÚT, Nguyễn thị Ngọc ÁNH ( cô Bắc-kỳ nho-nhỏ), Trần thị DIỆP, Phạm thị NINH (em chị Phạm thị An, con thầy Khánh dạy vẽ), Tăng thị Như HOA, Phạm thị LIÊN, Đoàn thị thu NGUYỆT (con cụ Khánh, Hội trưởng hội Phụ Huynh Học Sinh PCT), Nguyễn thị Minh PHƯỢNG (Phượng cao, không phải chị quá cao, chỉ đôi guốc hơi cao), Hoàng thị Kim SA, Phạm thị quỳnh CƯ (cô bé tóc bím, và thường bím tóc thắt nơ, trông rất … "dễ ghét"), Phan thị DIÊN, Hoàng thị N. TRÂM, Dương thị Lệ XUÂN (bà Cố vấn), Phan thị YÊN, Phan thị LÊ (năm 1977, giữa núi rừng heo-hút, tôi tình cờ gặp chị Lê xơ-xác, tay xách, nách mang, đi thăm chồng cải tạo, tôi đã chào chị mà lòng ngậm ngùi "Lấy chồng lính chi cho khổ") ...
Có thể còn vài cô nữa nhưng tôi quên tên, xin thứ lỗi.

Trong các cô, thì chị Trâm, chị Lệ Xuân, chị Yên là lớn hơn cả, nên ngồi ở bàn cuối, làm thành hàng rào điện-tử ngăn cách bọn con trai chúng tôi với các cô yêu bánh nậm. Giờ ra chơi, các cô thường tụm năm, tụm ba, dưới hành lang để trò chuyện, hoặc chia nhau cốc, ổi, xí muội, … Khi bị gọi lên trả bài thì thường rất rụt-rè trả lời rất nhỏ, như sợ bọn con trai nghe! Chúng tôi biết các cô học rất thuộc nhưng e-lệ nên hay quên, được dịp chúng tôi thường trêu : Biết mà, hồi hôm thấy đi cinê với bồ, …. Trừ chị Ninh ra, chị nầy luôn tỏ ra không sợ súng, nhìn thẳng xuống lớp và trả lời rất to. Người nhút nhát nhất là chị Trần thị Diệp. Tôi và các bạn trong nhóm hay chọc, (bị chưởi !), nhưng khi có dịp đứng nói chuyện với các chị thì tim muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.

Ngay từ hôm đầu tiên bước chân vào lớp, anh CHUNG, lớp trưởng (Chung người Bắc, to con và lớn tuổi hơn bọn tôi, anh làm lớp trưởng cho đến hết Đệ nhất cấp) chỉ tôi ngồi bàn thứ hai bên trái nhìn lên bảng đen, gần cửa sổ lớn, nhìn ra hàng cây sao bên kia đường thuộc khu Tạo-tác của Quân đội, buổi sáng có nhiều tiếng chim ca. Trước mặt tôi là Bùi Quảng BÌNH (tên nầy điếc không sợ súng, thường chọc phá các cô), Nguyễn văn THỌ (vào Thủ đức 1964). Bên cạnh là Phan văn THƯƠNG, sau lưng là Lê tự CHẨN, hai bạn nầy rất giỏi về toán và lý hoá, trong khi tôi rất kỵ hai môn nầy, mỗi lần có bài tập tại lớp là tôi giả bộ suy nghĩ, viết, nhưng sự thật là đợi hai bồ tèo làm xong xin cóp-py! Hai bạn nầy luôn luôn tỏ ra rất hào-sảng, tôi nhớ ơn các ban mãi mãi. Nguyễn văn DIÊN cao ráo, trầm tĩnh, nhưng khi đã cãi là cãi tới bến. Bạn Diên điển hình cho người trai xứ Quảng, nghe nói sau nầy bạn là Sĩ-Quan Kỵ binh Thiết giáp. Chiến trường quá rộng lớn, tôi chưa một lần gặp lại bạn. Trong lớp có Trần ngọc TOÀN là hay chọc phá tôi nhất. Toàn đặt tên cho Huỳnh trọng TÍN, Huỳnh CHÂN, Nguyễn phạm kim HÙNG và tôi là BỘ TỨ MÃ TỮ (mã tữ là viên đạn giả để thực tập, nó ngắn hơn, lùn hơn viên đạn thật). Quả thật vậy, 4 đứa chúng tôi thuộc loại dân lùn, khi xếp hàng vào lớp luôn đứng đầu.ï Có lẽ Huỳnh trọng Tín lùn hơn cả. Tín trắng trẻo, tay chân nhỏ nhoi như con gái, Tín ít bạn bè, có vẻ rất cô-đơn, luôn luôn rủ tôi cùng đi bách bộ trong sân, nói chuyện đời … Sau nầy tôi nghe nói Tín ra BƯNG (Mật khu), trong khi tôi lại là lính chuyên nhảy vào bưng, đôi lúc tôi nghĩ : nhỡ một ngày đẹp trời nào đóù, chúng tôi hội ngộ tại bưng, thì phải xử sự ra sao. May sao chuyện đó không xẩy ra, mà cũng không biết lời đồn kia có đúng hay chăng ? Trần ngọc TOÀN cao hơn tôi (dĩ nhiên), đẹp trai, vui tính, nhà ở Trẹm, đôi lần tôi có đến chơi. Một hôm giờ ra chơi, trời mưa, tôi đứng trên hành lang nhìn mưa (nếu trời không mưa, không được đứng ở hành lang), Toàn đến bá vai tôi gợi chuyện.

_ Ở trường cũ, năm đệ thất, T. có bị đưa tới Bác Sĩ khám không ?

_ Khám chi, có khám chi mô.

Toàn vui vẻ nói : _ Ở đây năm đệ thất, học sinh phải đến chỗ BS Thái Can khám.

_ Khám chi ?

_ Khám đầu gối, lấy bút gõ vào đầu gối xem phản xạ, và khám dế, coi dế có thụng không.

_ Toàn bị khám chi ?

_ Khám dế, nhột quá làm mình cười, ổng la quá.

Mấy năm sau người bạn vui tính nầy lặn đâu mất, tôi chưa lần nào gặp lại.

Những bàn phía sau có Nguyễn nam CƯỜNG, Nguyễn hữu ĐỂ, Phan văn CƠ (bóng rổ), Nguyễn sĩ TIỆP, Nguyễn sĩ PHÚ, Lê kim NGÂN (trong đội bóng tròn của lớp, đã hy sinh tại chiếân trường Nông Sơn - Tây ĐN), Huỳnh văn NHẤT (vua đi học trễ, vì nhà ở An-Hải, phải qua đò sông Hàn), Hồ ngọc PHỐ, Nguyễn ngọc HỒI, Nguyễn cao TRIẾT (Nguyễn Xin, bạn nầy có nụ cười rất giòn), Phạm xuân THANH, Vũ minh CHÍNH, Nguyễn TRO, Diêu đức CHÂU, Ngô CHI (Chi brillantine, đầu láng), Trần hữu Bé (cháu thầy Tổng giám thị DUẬN), Ngô văn KHƯƠNG (Khương lùn hơn tôi, không hiểu sao Toàn không ghép vào nhóm Mã tữ, Khương nói tiếng Quảng, âm hơi nặng, có biệt tài viết tay trái, mỗi lần lên bảng giải toán hình học, Khương dùng tay trái vạch một vòng tròn, tròn như mặt trăng, các bạn đều phục. Khương nhà nghèo nhưng rất hiếu học, sau khi rời trường PCT/ĐN, Khương theo học Y-Khoa tại Huế, có thời gian toán tôi đóng tại Phú Bài, lâu lâu về Huế, tôi thường đến cư-xá sinh-viên rủ Khương đi ăn kem, và nhắc laị những kỷ niệm cũ ở ĐN. 1973 Khương tốt nghiệp Y-KHOA Bác-sĩ, lúc bấy giờ hiệp định Paris đã ký nhưng chiến sự trở nên ác liệt, Khương bị gọi vào Quân-đội, phuc vụ trong Binh chủng Hải-Quân. Nhưng chỉ 5 tháng sau, trong một lần di chuyển trên kinh rạch Vùng 4 Chiến-thuật, Khương đã đền nợ nước. Nhận được tin bạn mất, tôi đã khóc trước hàng quân. Trời cao sao nỡ đành ...), Nguyễn bá TRẮC (tên nầy đẹp trai nhất lớp, trắng trẻo, tóc xoăn, bồng bềnh, một hôm vào giờ Việt-văn của thầy TIẾN người Bắc, thầy đọc hai câu thơ : Trăm năm dù có bao giờ, đốt Nò (lò) hương ấy so tơ phiếm nầy, Nguyễn bá Trắc nhà ta đứng lên hỏi

- Thưa thầy NÒ là gì ạ?

Thầy Tiến mặt biến sắc, thầy giận đến run tay, gọi Trắc lên bảng … Tôi biết Trắc không hiểu thật chứ Trắc không có ý nhái giọng của Thầy. Sau nầy Trắc theo học trường Mỹ-Thuật ở Huế.

Chúng tôi lúc đó còn rất ngây thơ, vô (số) tội, tôi còn nhớ vào giờ ra chơi, ngày nọ, thấy Quỳnh Cư ôm cặp vội vã ra về, tôi đến hỏi chị Trâm _ Quỳnh Cư đau chi mà về gấp rứa chị Trâm ?

_ Tu-bi (to-be)

_ Tu-bi là bệnh chi ?

_ Là tu-bi, đồ ngu.

Học Pháp văn mà tu-bi với tu-beo, tôi đành chịu ngu, mấy năm sau khi tôi có bạn gái mới biết được căn bệnh trời gầm nầy.

Năm đệ ngũ, Chị Trâm và chị Lệ Xuân bỏ lớp, hai chị bỏ cuộc chơi, trong lớp có vài khuôn mặt mớí : Mai thị QUỲNH (sau nầy là phu-nhân thầy Kính), Trịnh thị HUYỀN, Lê thị THU (Thu viết chữ rất bay bướm, làm thơ hay, sau nầy nghe đồn chị Thu theo học sư-phạm ở Huế, trong lần về thăm nhà ở ĐN, xe lật trên đèo Hải Vân, chị Thu tử nạn, không biết thật hay tin đồn, mong rằng sự đau lòng đó không có thật). Bên nam sinh có thêm Đỗ văn CHỚI (ăn mặc tươm tất, tóc tai chải chuốt, đặc biệt có giọng hát rất truyền cảm. Chắc các bạn còn nhớ giữa thập niên 60, vào mỗi tối thứ bảy, tại Ty thông-tin ĐN, gần nhà thêu Tam Phượng của bạn Vương Ngọc LONG, có nhạc sống. Bọn tôi thường xúi Chới lên hát, ở dưới chúng tôi cổ võ khan cả tiếng. Năm 64, Chới "bỏ trường mà đi" vào Quân trường. Mùa hè 1972, trong lần nhảy xuống phiá Tây ĐN, tôi gặp lại Đỗ văn Chới giữa trận địa mịt mù khói lửa, lúc đó Chới là Tiểu đoàn Phó TĐ 37 Biệt động Quân. Từ đó đến nay không gặp lại bạn, không biết sống chết phương nào. CHỚI ơi ! đọc được những giòng nhớ thương nầy, hãy gấp gấp liên lạc, nắng sắp tắt cuối chân đồi …

Phong trào thể thao và văn nghệ lên cao. Hoàng PHÚC làm trưởng ban văn nghệ. Tôi được bầu làm trưởng ban báo chí, nhưng mọi chuyện bán cái cho Trương Khả QÚY (người bạn chí thân suốt đời tôi) để lo đội bóng tròn. Đội bóng tròn của lớp đá đâu thắng đó nhờ các chị Diệp, Thu , Ninh, Út, Ánh tận tình ra sân cổ vũ, hôm nào không có bóng dáng các tà áo trắng là lớp bị thua. Chị Diệp đã ưu-ái may cho một lá cờ đề tên lớp to bằng .... bàn tay.

Giữa năm, thầy Hiệu-trưởng Nguyễn đăng Ngọc phải đổi đi, thầy Ngô văn Chương về thay thế. Thường ngày chúng tôi rất sợ thầy Hiệu Trưởng Ngọc, nhưng hôm thầy nói mấy lời từ giã, tôi đã phải lau trộm nước mắt (tôi rất dễ khóc, các bạn đừng cười).

Năm đệ tứ, lo gạo bài như điên để thi, nhưng cũng là năm viết lưu bút ngày xanh nhiều nhất, vì biết cuối năm sẽ có nhiều thay đổi. Đầu niên học. Nguyễn ngọc Ánh theo gia đình đổi vào Tam-Kỳ. Lần đầu tiên, có bài thơ tình non dại được đăng lên báo, cảm giác sướng rêm người. Trong những năm Đệ nhất cấp, ngoài các thầy Tiến, thầy Dật ra, tôi còn nhớ Gs Nguyễn trung Hối (có nụ cười rất buồn, dạy lý-hoá), Gs Hoàng thế Diệm dạy toán (sau nầy có thời gian tôi ở chung một trại cải-tạo với thầy, rồi đổi trại, không biết thầy về đâu), Cô Bạch Vân dạy Pháp-văn, Cô Như Hà dạỵ Việt văn, công dân giáo dục, cô có chiếc răng khểnh rất duyên, đẹp quý phái ...

Niên khóa 62-63, lớp Đệ tam, năm dưỡng sức, trong lớp có nhiều thay đổi nhân sự, vì có sự chọn lựa ban A, B, C. Trương khả QÚY ban B, tôi ban A, nhờ đó tôi biết thêm vài bạn mới ban B như Nguyễn doãn KIM, Quách ẨN (1973 hy sinh tại chiến trường Quảng nam), Vương ngọc LONG, Phạm vũ THỊNH, v. v. ... Trong lớp ban A có vài bóng hồng mới như chị em Mai thị Thu-Thảo, Mai thị Hạnh, Nguyệt Tần, ...., bên nam có Nguyễn văn HƯNG, Trần việt HÙNG, Hà văn Minh (Minh celsius), Khải (em chị Bích Quân),... Năm nầy diễn ra Đại hội Thể thao Học-sinh Miền Bắc Trung nguyên Trung phần, cứ ba năm tổ chức một lần cho các trường Trung-học từ Quảng-trị đến Quảng-ngãi. Năm 63 tổ chức tại Huế, Thầy Châu-trọng NGÔ vừa đổi về làm Hiệu Trưởng thay thế thầy Ngô văn Chương. Thầy NGÔ là một nhà mô phạm vừa là một thể tháo gia, thầy tuyển chọn đoàn lực-sĩ của trường rất hùng-hậu. Tôi được đi dự trong hai bộ môn - bóng tròn và vũ-cầu. Trong một buổi chiều trên sân Tự-do, Huế, đội bóng tròn PCT/ĐN gặp đội Nguyễn Dục (Nguyễn Dục là một trường Trung học tư-thục nhỏ ở Quảng-tín), PCT khinh địch và xui-xẻo, đã để thua 0-1, vuột mất huy-chương bóng-tròn. Nhìn sự thất vọng trên mặt thầy Hiệu-trưởng, chúng tôi vô-cùng ân hận. Khi về lại nơi tạm trú - Trường Quốc -học - tôi và Hải (em cô K. Thành) vào phòng tắm chung của trường, không ngờ ở đấy đã có các bạn trường Nguyễn Dục, thấy Hải và tôi nhỏ con, các bạn buông lời khích bác, ngạo mạn, chạm đến danh-dự trường, không dằn được tự-ái, tôi đă nhào vào đấm-đá. Hải thấy vậy, vội chạy ra sân la lớn :_PCT bị đánh. Từ các phòng, các bạn PCT nhào ra, … Khi cảnh sát đến, có 5, 6 bạn trường Nguyễn Dục nằm trên sân - không biết bị thương hay giả đò. Chúng tôi bị đưa về đồn CS Ga Huế, sau đó thầy HT đến nhận về. Chúng tôi chờ đợi sự khiển trách cuả thầy, nhưng tuyệt nhiên không có. Chiều hôm sau ra quân thi đấu môn vũ-cầu, tôi đã chuộc lại lỗi bằng cách cùng đội đánh bại trường Hàm Nghi, Huế, mang huy-chương về cho PCT. Trên hồ bơi Câu lạc-bộ thể-thao Huế, anh Cách - học sinh lớp đệ ngũ, người ở Thanh-bồ - trong một buổi chiều đã đem về cho PCT 3 huy chương vàng,1 bạc về bơi-lôị, cuối cùng anh bị ngất. Hôm đoàn lực-sĩ về trường, cờ Hiệu đoàn treo đầy huy-chương, CUP để đầy bàn.

63/64. Một năm đầy lo-lắng học hành,vì luôn luôn bị câu hát dí dỏm ám ảnh : Rớt tú-tài, anh đi trung-sĩ, … Cuốn vạn-vật của GS Nguyễn cửu Triệp luôn luôn trên tay Bà Mộng Liên (vạn vật), Luật-sư Trương thị Thúy (Pháp-văn), GS Lê quang Mai (lý-hóa). Trong lớp có hai chị tôi quý nhất đó là chị Hồ thị TRÚC, và chị Quỳnh Chi (chị của cô bé Quỳnh CƯ). Chị Trúc học giỏi, đứng đắn; trong mắt tôi, chị là người chị mẫu mực; dưới mắt chị, tôi là đứa em tinh nghịch. Còn chị Q. Chi nổi tiếng là người đẹp cuả trường, đẹp, hiền, nhất là không kiêu-ngạo như những người đẹp khác. Các Truờng Trung Học ở ĐN lúc đó mỗi trường đều có người đẹp tiêu-biểu, ví dụ : Sao Mai có chị Quỳnh-Hoa (sau nầy là phu-nhân thầy Kỳ dạy Anh-văn), Phan thanh Giản có cô Tàu lai (quên tên), v. v... PCT có người đẹp ở mỗi lớp, như các lớp trên có chị Thu-Liên, Thu-Hà (tôi chỉ nghe tên, chưa gặêp mặt), lớp chúng tôi có chị Q. Chi, các lớp dưới có Thái Thu, Minh-Chỉnh, Minh Chi, Cẩm Lai, Tiểu Hương, Diễm, vân vân...Với hai con rít, thắt nơ xanh, tím, buông xuống bờ vai, đã đi vào trái tim của nhiều chàng trai ĐN, Chị Q. Chi có rất nhiều người ái-mộ - nhiều fans say mê - nhưng không dám nhảy vào, vì quanh nhà chị Q. Chi ở đường Nguyễn-Hoàng, có tường cao và trên tường có dây kẽm gai, các anh sợ nhảy vào rách áo ! Cuối năm 1966, tôi bị thương lần đầu tại LàngVey( Khe-sanh), được trực thăng Mỹ đưa về điều trị tại tàuu bệnh-viện Hope neo ngoài khơi Tiên-sa. Sau hai tháng nằm ở đây ,dù chưa lành hẵn, nhưng quá thèm cơm VN, tôi xin vào đất liền. Một buổi chiều lang-thang trên phố Đồng-Khánh, khi đi ngang qua tiệm kim-hoàn nhà chị Trúc, tôi muốn vào thăm chị, gây cho chị sự ngạc nhiên trong bộ đồ lính chơi. Sau quầy, bà cụ tóc vấn khăn nhung đen kiểu người miền Bắc, tôi lễ phép thưa

-Thưa cụ, cháu là bạn học của chị Trúc, nhân đi ngang, cháu vào thăm chị ạ …

Bà cụ nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi lắc đầu nói

- Tiếc quá, cái Trúc đã đi lấy chồng xa … xa … lắm rồi.

Tôi chào bà cụ đi ra mà cứ suy nghĩ mãi - Chị Trúc học giỏi mà sao đi lấy chồng sớm quá vậy, mà lấy chồng đâu mà xa … xa … lắm, cùng lắm là Saigon đâu có thể Hà-nội được.

Cũng lần về ĐN đó, tôi được tin chị Q. Chi từ bỏ thời con-gái. Tự nhiên tôi nghĩ đến anh TBN. Anh TBN là một người âm thầm ái-mộ chị Q. Chi, si-mê và mãnh liệt (không bao giờ chị biết được). Anh học trước tôi vài lớp, quen anh tại võ-đường VOVINAM. Tại võ đường, Sư-phụ dạy sư-huynh, sư-huynh dạy lại sư-đệ, … Anh là Sư-huynh của tôi. Từ khi biết tôi học cùng lớp với chị Q. Chi, anh tỏ ra thương yêu, và chỉ dẫn tôi kỹ hơn, thường hỏi tôi về chị như : hôm nay chị đi học không, có vui không, v…v…. Một lần, sau buổi tập, anh rủ tôi về nhà anh chơi, trên đường Hoàng Diệu lên chợ Mới qua khỏi dãy nhà chính-phủ, đến hẽm gọi là hẽm Hoành-sơn (vì ngay đầu hẽm có tiệm sách-báo cùng tên) đi sâu vào trong khoảng 500 mét là nhà anh TBN, nhà nghèo, đơn sơ nhưng gọn gàng. Anh ở với Mẹ và cô em gái đang học lớp Đệ lục Nguyễn công Trứ. Anh nói bố anh tử trận khi cô em gái còn ẵm ngửa. Bước vào phòng ngủ cũng là phòng học cuả anh, tôi thấy trên bàn, bức chân dung họa rất khéo hình cô gái, hai con rít buông xuống bờ vai thắt nơ xanh. Tôi buột miêng : Q. Chi ?, anh mỉm cười không nói. Năm 1971, khi tôi đang nằm ở đèo An-Khê chờ công-tác thì nhận được tin anh ngã gục trên chiến trường Darto-Tân cảnh. Tôi đã không cầm được nước mắt. Tôi khóc thương anh, anh mặc cảm, anh nghèo, nhưng anh có tâm-hồn, anh sống có lý-tưởng. Lời anh khuyên tôi còn nhớ mãi - T. à, mình học võ là để tự vệ, bênh vực kẻ yếu, không phải để đánh lộn, …

Niên khoá 64/65, ngày khai giảng. Bước vào lớp học với một tâm-hồn rất trống trải, cô-đơn. Các bạn Chới, Thọ, Ngân, đã "bỏ trường mà đi", các lớp đàn anh như Trần trí Dũng, Lê văn Nghĩa, TBN, Nguyễn văn LƯ, ... đang ra chiến trường. Sở dĩ tôi còn trở lại lớp là vì những giọt nước mắt người thân níu-kéo chân tôi lại, nhưng tôi biết sớm muộn gì rồi tôi cũng phải dứt áo ra đi. Không còn tâm trí nữa để lo đèn sách, khi bên ngoài biến động liên miên, và tiếng súng càng lúc càng vọng về gần hơn. Cô Mộng Liên, Cô Thúy, tỏ ra ái ngại cho tôi, vì sự lơ-là sách vở. Các cô có biết đâu tôi đang chuẩn bị cho một chuyến đi xa …

Giờ cuối cùng của đời học sinh là 2 giờ Việt-văn của thầy Trần-đình-Quân. Hôm đó anh Nguyễn văn Hưng thuyết trình, phê-bình một tác-phẩm văn- học. Tôi ngồi yên lặng cố thâu hết những hình ảnh lớp học, thầy, bạn, v.v… Tâm hồn tôi đang dậy sóng, vì chốc lát nữa đây, khi tan học là tôi vĩnh-viễn rời bỏ cuộc đời học-sinh, để quăng thân vào đường Khổ-nạn. Giã-từ tất cả … Giã-từ …

Nhà thơ xứ Quảng, Bùi Giáng có hai câu thơ được truyền bá rộng-rãi trong nhân gian :

Cứ ngỡ xuống trần, vui chốc lát
Nào ngờ, ở mãi đến hôm nay

Xin ngàn lần cảm-tạ Thượng-đế đã cho tôi còn ở lại mãi đến hôm nay, để được ngồi ôn lại những kỷ-niệm thân thương của một thời cắp sách, nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè của một thời hoa mộng.

San Diego 10/03
Tê Đê Tê