TÌNH MẸ TRONG ĐƯỜNG THI :
|
DU TỬ NGÂM Từ mẫu thủ trung tuyến
Tranh Vũ Thanh HằngMẹ hiền như cánh sen non Thơm tâm từ-lượng, ngát hồn đại-quang. Đường đời bát ngát thênh thang Trái tim Từ Mẫu : hành trang vô bờ
Tranh Phạm HoàngMẹ ân tình vẫn nguyên sơ
Tranh Hồ AnhCon, thân măng dại, nương bờ dậu
Tranh Suzie VươngMẹ là trái tim diệu ảo Ngọt ngào như ngọn lá say Mênh mang chiều ru tiếng sáo Chân thành như cỏ như cây
Tranh Bé KýMẹ là tranh ảnh muôn màu sắc
Tranh Nguyễn Thị Hợp Mẹ là dòng cổ ngạn
Mẹ như hơi thở, nguồn nhựa sống Xanh cây khế ngọt, mát giòng sông Mẹ có biết không, Ngày Cho Mẹ ? Hồn con đua nở vạn đóa hồng ! |
KHÚC NGÂM CHO ĐỨA CON ĐI XA
SONG FOR THE TRAVELING BOY The thin clothes on the body of her leaving son She sews and stitches them meticulously and painstakingly Fearing he might be late returning when his work is done How much love could the heart of this young budding grass Ever repay the three months of spring light of the sun ? Hải Đà
Thi-sĩ Mạnh-Giao sống vào thời Trung-Đường (cùng thời với Bạch-Cư-Dị, Hàn Dũ, Giả Đảo,Thường Kiến, Thôi Hộ ...) Mạnh-Giao tự là Đông-Dã, sinh quán tại Vũ-Khang, Hồ-Châu (nay là huyện Vũ-Khang, tỉnh Chiết-Giang). Công danh khá lận đận, đi thi nhiều lần không đỗ, mãi đến năm 46 tuổi mới đỗ được tiến sĩ và năm 50 tuổi mới được bổ làm huyện úy Lật Dương (tỉnh Giang-Tô), một chức quan nhỏ mà ông không màng tha thiết. Cảnh nhà nghèo túng quẫn, cuộc đời không lấy gì vui, nên thơ của ông thường châm biếm chê bai giới quý-tộc quan liêu, lột tả nỗi niềm ta oán của giới trí-thức không gặp thời như cảnh ngộ của ông, hoặc nỗi bất công của những người dân nghèo lao-động tay lấm chân bùn. Tác phẩm của ông còn lưu truyền cho hậu thế là "Mạnh Đông Dã" gồm 2 tập thơ . Thơ của ông gồm khoảng hơn bốn trăm bài nhạc phủ và cổ thi . Ông rất thận trọng, cân nhắc trong việc lựa chọn chữ nghĩa, ý từ, làm nhiều bài thơ rất khúc chiết, sâu sắc, khó hiểu . Bài thơ Du-Tử-Ngâm của ông là một ngoại lệ, là một bài thơ hay với lời lẽ giản-dị, chân thật và dễ hiểu. Hàn Dũ trong "Mộ Chí Minh" đã nhận xét thơ Mạnh Giao là"tài năng như ngựa bất kham, thông suốt kim cổ" .
Thế giới của Đường Thi là một thế-giới siêu thoát, không bến bờ, bát ngát, triền miên và vô tận. Thời Đường đã đưa Đường-Thi lên đến tuyệt đỉnh, cực thịnh của nền thi-ca nhân-loại, diệu vợi, có một không hai. Đó là tinh-hoa của nền văn hóa Trung Quốc. Bộ Toàn-Đường-Thi soạn thảo vào đời Thanh gồm khoảng 900 tập, với gần 2900 thi-sĩ đã sáng tác khoảng ngót 50,000 bài thơ, đó là chưa kể số lớn những bài thơ chưa thu góp lại được . Với một di-sản đồ sộ như vậy, thơ Đường rất phong phú và đa dạng, tả tình, tả cảnh, nói lên cái khí hạo nhiên của con người, cái đạo Trung-Hiếu-Nhân-Nghĩa làm đầu .Thơ Đường chia ra nhiều thể loại, nội dung khác nhau: những bài thơ thời chinh-chiến tả cảnh biên thùy, nỗi lòng người lính thú xa nhà, những bài thơ tả cảnh đồng quê dân dã, bốn mùa xuân hạ thu đông, những thú tiêu khiển thiên nhiên, hưởng nhàn, đọc sách, ngâm vịnh, câu cá, du thuyền, những bài thơ phơi bày thảm trạng chua xót của xã hội, những bài siêu trần thoát tục, hệ lụy nhân sinh v.v... không sao kể xiết. Tuy thế-giới Đường-Thi lớn lao và đồ sộ như vậy nhưng chỉ có một số ít ỏi những bài thơ Đường ca tụng nghĩa Mẹ ơn Cha. Với một ý-thức-hệ nho-gia phong-kiến, lấy "trung-hiếu" làm đầu, dựa trên nền tảng triết-lý nhân sinh đại chúng và đạo-lý cương thường xã hội, trong một chế-độ quân-chủ về chính trị và phụ quyền về xã-hội, mà chúng ta rất ngạc nhiên khi thấy hiếm hoi những bài thơ ca tụng Tình Mẹ . Bài thơ Du-Tử-Ngâm là một bông hoa hiếm hoi đã vươn mình khoe sắc rực rỡ trong khu rừng Đường-Thi trùng trùng điệp điệp. Phải chăng những nhà thơ Đường, trong cái sĩ-khí của nhà Nho, ngày đêm dùi mài kinh sử để mong đến ngày thi đỗ ra làm quan, thực hiện cái hoài bão "kinh bang tế thế, trị quốc an-dân...", hoặc nếu không thành-đạt như-ý, họ bất lực chán nản buông xuôi và tự ẩn dật chìm mình trong tư-tưởng vô-vi, hướng về những đề tài thiên nhiên, sơn thủy điền viên, với tư tưởng "lạc thiên tri mệnh" (vui trời biết mệnh). Phải chăng họ đã mang mặc-cảm ngại phơi bầy những tình cảm gia-đình mật-thiết riêng-tư, những xúc động chân-thành như tình mẹ, vì bị ràng buộc bởi quan niệm nghiệt ngã "trọng nam khinh nữ","tam tòng tứ đức" đè nặng trong xã hội hủ-tục phong-kiến, sợ người đời gán cho là kẻ yếu đuối, hèn nhác không phải là bậc đại-trượng-phu trong thiên hạ ? Hình ảnh người phụ-nữ trong xã-hội đó phải chăng chỉ là những chiếc bóng âm thầm, tủi nhục, mang cái thân phận bèo bọt "chồng chúa vợ tôi" , có nhiệm-vụ tôi mọi nô bộc, chỉ biết đầu tắt mặt tối làm việc và không được chia xẻ cái chân-lý căn bản của lẽ sống gia-đình : hạnh phúc và tình yêu. Thật là thảm thương khi ta mường tượng đến hình ảnh của người phụ nữ, một người Mẹ, một người vợ trong cái xã hội quan-liêu bất công đó: "Loạn bồng vi mấn, bố vi cân, (Tóc rối bù như đám cỏ bồng, chít trên đầu một chiếc khăn thô "Tóc tua cỏ dại rối bù Dung nhan tàn tạ, khăn thô che đầu Nắng mưa sương gió dãi dầu Đầu non nặng gánh củi sầu thế-gian" Chính vì xúc động trước hoàn cảnh của người phụ-nữ nhẫn nhục, thầm lặng, ngậm đắng nuốt cay, lênh đênh mười hai bến nước "trong nhờ đục chịu" , thi-sĩ Mạnh Giao đã làm chứng-nhân trung-thực phơi bày cái thảm-trạng trớ trêu, cái nỗi lòng u-uẩn đó qua bài thơ: Phu thị điền trung lang ( Dịch nghĩa: BÀI THƠ CHO NGƯỜI ĐÀN BÀ DỆT VẢI : Chàng vốn là trai thôn dã / Thiếp chỉ là gái chân quê/ Từ năm thiếp đi lấy chàng/ Vì chàng chăm lo canh cửi/ Thân sức ngày càng suy yếu/ Vẫn luôn không rời khung cửi/ Lụa trắng do tay thiếp dệt/ Mà sao áo thiếp tả tơi ?/ Quan sai treo bảng cùng đường/Bắt thiếp phải trồng cây dâu !)Dịch thơ: Chàng từ vốn nghiệp canh nôngThiếp quê chân đất ruộng đồng quanh năm Trao thân gửi phận cho chàng Sớm hôm canh cửi chẳng màng cuộc chơi Vóc gầy thân hạc chơi vơi Bên song cửa sổ chẳng rời con thoi Lụa là thiếp dệt trắng tươi Mà sao áo thiếp tả tơi bần hàn ? Quan sai treo bảng xóm làng Cây dâu bắt thiếp phải trồng cho mau .... (Hải Đà) Thi-sĩ Mạnh-Giao đã can-đảm gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, nhưng tiếng chuông ấy chỉ là âm thanh vô vọng của một tiếng kêu uất hận bị chìm lắng và lãng quên giữa chợ đời đen bạc. Người đàn bà đã phải trồng cây dâu, vun xén cho xanh tốt, để rồi chính mình cũng đã phải cam phận làm kiếp tằm bất hạnh, rút ruột nhả tơ, để cuối cùng chịu chết trong cái vỏ kén oan nghiệt của xã-hội bất công. Nói đến sự đề-cao người phụ-nữ hay vinh danh người Mẹ trong Đường Thi, thì ai ai cũng phải nhắc đến bài thơ DU-TỬ-NGÂM. Đó là bài thơ với những lời lẽ chân tình, giản dị, là những tiếng lòng tỏa ra những âm vang huyền diệu, những nỗi niềm tha thiết dễ làm rung động người đọc, vì đó là nhừng lời lẽ phát xuất tự một con tim chân-thật, bộc trực của một người con rất có hiếu, nhà tuy nghèo nhưng đã được Mẹ, hy sinh, tần tảo, dãi dầu nắng sương , chăm lo, nuôi nấng cho đến khi thành tài, dù rất muộn màng mãi đến năm 50 tuổi, cái tuổi tri-thiên-mệnh mới được bổ làm quan. Khi được làm quan , ông đã nghĩ ngay đến Mẹ già ở quê và vội vàng đón Mẹ về chung sống với ông. Tác giả đã sáng-tác bài thơ "Du Tử Ngâm" khi đón Mẹ lên Lật Dương (Nghênh Mẫu Lật Dương Tác, như lời chú-giải của ông). Bài thơ có nội dung ngắn gọn, nhưng mỗi từ ngữ trong thơ rất dạt dào, súc tích , tạo một sự truyền cảm mãnh liệt đến người đọc. Chỉ nhìn những công việc nho nhỏ thôi, những sợi chỉ trên tay của bà mẹ già, những giây phút thầm lặng, cúi đầu chăm chú từng đường kim, múi chỉ để, may, khâu, vá áo cho con, chờ ngày con lên đường đi xa. Qua bao dặm trường ngăn cách, trắc trở, qua bao cạm bẫy nguy hiểm của đường đời, Mẹ biết bao giờ con trở lại ? Đợi ngày vinh qui bái tổ quá xa vời vợi trong trí tưởng của ngươiø Mẹ. Cái gì để gửi gắm cho con ? Tấm áo khoác trên mình con trên khắp nẻo đường lãng du, dù ở một bến bờ nào đều mang tâm-tình ấp ủ, khăng khít của lòng Mẹ. Lòng Mẹ thương con như sông rộng, biển đầy, mênh mang, bát ngát. Nước mắt chảy xuôi, có bao giờ chảy ngược ? và người con có đền đáp lại được gì mà người Mẹ đã cho ? Cái tâm tình nầy đã trải rộâng trong hai câu thơ kết : "Thùy ngôn thốn thảo tâm Ai có thể nói rằng tấc lòng của cỏ non đền đáp được ánh sáng của ba tháng mùa Xuân nắng ấm? Đứa con là "tấc lòng của cỏ" , còn Mẹ hiền là "nắng ấm của ba tháng mùa xuân" khi mà những tia nắng đầu tiên xuyên qua kẽ lá, đã phả hơi ấm, làm đâm chồi nẩy lộc những cọng cỏ co ro, ủ rũ, tàn héo, nằm rạp mình trong những ngày đông lạnh lẽo, u ám. Cỏ cũng như những cánh én không tạo dựng một mùa xuân, không đem lại nắng ấm mùa Xuân, nhưng chính những tia nắng ấm đó từ lòng Mẹ đã làm cỏ thắm tươi, xanh ngát để hãnh-diện khoe màu cùng vũ trụ. Chính Lòng Mẹ đã hy sinh cho con, muốn cho con nên người, công thành danh toại hầu nở mày nở mặt với thiên hạ . Bài thơ Du-Tử-Ngâm đúng là một tuyệt-tác diễn tả được lòng mẹ bao la, đã xuất phát tự con tim, đáy lòng như sự nhận xét của Tô-Thức "Thi tùng phế phủ xuất, xuất thiếp sầu phế phủ" (bài thơ xuất phát từ ruột gan, tâm can mà ra, và đã làm gan ruột phải bồi hồi xao xuyến) . Tôi rất thích đọc đi đọc lại nhữøng điệp-tự như "mật mật phùng" (mật = dầy, nhặt, gần, khít / phùng =may) đã đối lại với "trì trì quy" (trì = chậm, trễ, muộn, lâu / quy =về) tạo nên những giai-điệu rất hài hoà, âm thanh tình mật thiết quyện vào nhau, đã diễn tả được những gì khăng khít nhất, những khắc khoải lo lắng bồi hồi của người mẹ, sợ con đi xa lâu trở về,trên bước đường viễn du không một bàn tay săn sóc, Mẹ chỉ mong sao cho manh áo được dầy, kín, để đủ sưởi ấm thân con trẻ trên bước đường tha phương lưu lạc.Phải chăng thi-sĩ Mạnh-Giao đã cảm nghiệm được cái tinh-ngôn diệu-nghĩa của thiền-thi, cái thế giới "sắc tức thị không" của thiền-tông, cái công-án ngữ-lục của thiền-nhân, dùng thi tải đạo, chuyển hóa và triển-khai cái khổ đau của Người Mẹ Thương Nhớ Con Đi Xa Nhà thành cái đẹp vô vàn, một hình ảnh thiêng liêng tuyệt vời nhất, là một "Đệ Bát Ân" (ân đức thứ tám) trong Kinh Đại-Báo Phụ-Mẫu Trọng-Ân: Khi sanh ly tử biệt Đau đớn biết dường nào Thương con mà xa vắng Lại càng khổ biết bao Con đi đường xa cách Lòng mẹ bóng theo hình Phút giây không yên dạ Thương nhớ đến đoạn trường (Thích-Nhật-Từ trích dịch từ Kinh Báo Ân Cha Mẹ) Bài thơ với từ ngữ mộc mạc, giản dị, nhưng đã diễn đạt được cái tận cùng của một bản sắc dân-tộc, một cội nguồn của nhân-bản: Tình Mẹ, của một đời dầm mưa dãi nắng, của những chuỗi ngày triền miên, cay đắng, chịu đựng, và đợi chờ, khi những đứa con của Mẹ, phải làm "du-tử" ra đi thời chinh chiến..., không hẹn ngày trở về ..."Mẹ buồn thắp lửa hư-vô, Năm canh khắc khoải sững sờ đợi con" để mà "Đêm đêm trên cánh đồng khô, Đôi tay vô vọng mẹ quờ trăng mơ" (Mẹ Trầm Luân -Thơ Hải Đà)Hai câu cuối của bài thơ "Du-Tử-Ngâm" đã đi vào văn-học Trung-Quốc, đã tạo ra những thành ngữ trong tự-điển Hán-Học như: "Thốn thảo tâm" = tấc lòng nhỏ ví như tấc cỏ, lòng con hiếu thảo với cha mẹ "Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê, hoặc trong bài thơ "Nhắn Hỏi Xuân Đài" (Hải Đà) "Xuân huyên nhớ thuở đời tàn Mẹ ta dầu dãi tảo tần nuôi con Cha già cải tạo đầu non, Giao thừa mắt mẹ lệ mòn phương nao" Chuyện Kiều đã đề cập đến chữ Hiếu rất nhiều, hiếu-thảo với cha mẹ là việc con cái luôn mong ước được báo đền "Duyên hội ngộâ, đức cù lao, Nguyễn-Du cũng đã mượn hai câu thơ cuối của bài Du-Tử-Ngâm để diễn tả nỗi lòng tha thiết muốn báo hiếu cha mẹ, đền ơn sinh-thành của người hiếu-nữ Thúy- Kiều dù phải chịu đựng bao nhục nhằn đau khổ: " Đau lòng tử biệt sinh ly,
Mẹ hiền cho con chiếc áo đơn sơ mộc mạc, được khâu vá do chính bàn tay ân-cần của Mẹ đã đi vào văn học nhân gian Việt-Nam với nhữøng câu ca-dao bình dân mà ai trong chúng ta đã từng được nghe trong những bài dân ca: "Thương nhau cởi áo cho nhau Nghĩ đến chiếc áo do chính bàn tay mẹ may, tôi thích thú nhặt được những câu thơ sau đây, bình dị, giản đơn, không cao xa cầu kỳ, nhưng "trong mắt con Mẹ là tất cả", là hình-tượng của những chắt chiu, nhân hậu, chân thành, là những cảm xúc thân quen nhất, là những nét đẹp vĩnh hằng, của một trái tim đã rung lên muôn ngàn cung bậc, giữa khung đời xao động, trong khu vườn thơ ấu hồn nhiên và vô tư thuở nào . Hãy nghe những lời bộc bạch chân tình gửi gắm của đứa con lưu lạc xứ người : "Ngày xưa u mọi tối ngày Làm rách cái áo, mẹ may cả tuần Mẹ chong đèn vá, rưng rưng: Trặc tay hay có bầm sưng chỗ nào ?" (Trích bài thơ MẸ, trong thi-phẩm "Mời Em Lên Ngựa" của nhà thơ Luân-Hoán) Đọc mấy vần thơ trên, tưởng chừng như âm-hưởng và hương sắc của một thuở Đường Thi như còn vang vọng và phảng phất đâu đây: "Hướng lai đa thiểu lệ, đô nhiễm thủ tuyến-y" -Bành Quế - (từ xưa đến nay bao nước mắt đổ xuống, đã ướt sũng chiếc áo do bàn tay mẹ hiền may). Những giọt nước mắt đó đã được nhà thơ Issa ví như những giọt sương thu lấp lánh, những hạt trân châu ẩn hiện hình bóng Mẹ hiền như trong bài thơ Haiku: Tsuyu no tama Ôi những hạt sương (Bản dịch Nhật-Chiêu) Mẹ hiền đẫm lệ sương thu (Hải-Đà cảm dịch) Phải chăng chiều sâu của cảm nghĩ, bề rộng của cảm xúc, trong tư-duy và tâm tưởng của người xưa và nay, không phân biệt chủng tộc, màu da, tiếng nói, dưới mái nhà chung nhân-loại này đã tự nhiên, hàm súc trong Tình Mẹ, Nước Mắt và Chiếc Áo ? Hãy mường tượng hình ảnh của "Mẹ Thường Hằng" giữa đêm dài hiu hắt, bên ngọn đèn khuya vàng vọt leo lắt, ngoài khung cửa là những cành cây khô xương xẩu, trơ trụi lá, bóng đêm bao trùm, khung trời lạnh lẽo ảm đạm, sụt sùi những hạt mưa ngâu tháng bảy .... Đó là hình ảnh của nụ hoa ân tình, của hương thơm từ lượng, của ánh sáng bao dung, của biểu tượng chân-tâm và thực-tánh: "Ngọn đèn dầu trên chiếc máy may cũ Má còng lưng xem đường chỉ mũi kim Ngoài trời khuya nghe thằn lằn chắt lưỡi Bóng má trên vách như bóng bà tiên !" (Trích "Mừng Tuổi Má Bảy Mươi", trong thi-nhạc-phẩm "Mẹ Thường Hằng" của nhà nhơ Nghiêu-Minh) Cũng bàn về Chiếc Áo do chính bàn tay Mẹ may, khâu, vá, làm tôi chợt nhớ đến Bài Thơ ÁO CŨ của cố thi-sĩ Lưu Quang Vũ (Lưu-Quang-Vũ là người bạn đời của cố nữ-sĩ Xuân Quỳnh, nổi tiếng với bài thơ phổ nhạc "Thuyền và Biển") Bài Thơ ÁO CŨ "Áo cũ rồi, mỗi ngày thêm ngắn (thơ Lưu-Quang-Vũ) Và nữ-sĩ Xuân-Quỳnh đã xúc cảm với tình Mẹ Con bao la của Quang Vũ , thổn thức nói lên lòng mình : "Phải đâu Mẹ của riêng anh - Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi- Mẹ tuy không đẻ không nuôi - Mà em ơn Mẹ suốt đời chưa xong ..."Nói về "huyền-thoại" của Tình Mẹ, đã có quá nhiều ngôn-từ để diễn tả, và thật là đơn sơ, giản-dị, bóng Mẹ đã khởi đầu từ ánh lửa than hồng, bếp củi khi một ngày chạng vạng mặt trời chưa tỉnh giấc; bóng Mẹ là những buổi trưa hè buồn ru tiếng võng; Mẹ ru biển, ru sông, ru núi, ru trời, ru con chập chửng vào đời. Bóng Mẹ là những đêm dài oi bức, vò võ năm canh thức đủ năm canh, là "miệng ru mắt nhỏ hai hàng, nuôi con khôn lớn mẹ càng thêm lo". Mẹ là trái tim diệu ảo, ngọt ngào như ngọn lúa say, mênh mang chiều ru tiếng sáo, chân tình như cỏ như cây ... "Mẹ tôi tóc trắng bạc phơ Chiều chiều tựa cửa đón chờ tin con Bao năm lòng mẹ héo hon Thương con vất vả, long đong tháng ngày" (trích Thơ Vũ-Hối "Lời Ru Của Mẹ") Mẹ thân cò lặn lội nắng mưa, gánh nặng vai gầy sương gió, lưng còng lam lũ nhọc nhằn. Mẹ là bóng tre già phủ mái đầu xanh, là bàn tay xoa dịu những hôm trái gió trở trời, là trái tim chan chứa tình người, hy-sinh, chịu đựng, một món quà cho đi mà chẳng bao giờ đòi lại. Món quà vô-giá đó chính là chiếc áo "Du tử thân thượng y" của Mẹ cho con những ngày dãi nắng, dầm mưa, những đêm đi gió về sương .... Và trong những đường kim múi chỉ đó đã xen kẻ những khắc khoải, bồn chồn, ăn ngủ không yên, phấp phỏm đợi chờ tin con ở nơi đèo heo hút gió, chốn biên thùy rừng sâu nước độc, để bảo vệ quê-hương muôn vàn yêu dấu .... "Đây chiếc áo năm canh mẹ thức (Trích thơ Thanh-Phượng " Lời Mẹ Hiền" trong thi-phẩm Vương Tơ) Hình ảnh của người Mẹ Việt-Nam chịu đựng trong cuộc chiến tranh tương tàn chẳng có một ngôn từ nào để diễn tả đúng mức cái bứt rứt quằn quại the thắt nội tâm, cái đau đớn thống khổ đè nén tâm linh, trong cảnh khói lửa triền miên ly-loạn, giữa tang thương đổ nát điêu tàn, những ngày tháng thê-lương hoang vắng ảm đạm, khi những người con du-tử của Mẹ ra đi bảo vệ giải giang-sơn gấm vóc, có thể là những cánh chim bạt gió bay đi không hẹn ngày về.... Hình ảnh gươm dao xô xát, súng nổ bom rền, chốn biên cương trắc trở, nơi trận mạc điên cuồng, đã hình tạo những dòng suối lệ chua chát, ngậm ngùi vẫn chảy hoài chảy mãi trong đôi mắt Mẹ hiền. "Mẹ như ánh mắt trăng rằm, lệ từ-bi chảy trăm năm chẳng mòn ..." Cuộc chiến đó đã trĩu nặng trên đôi vai cơ cầu của Mẹ, đã khắc nhiều vết hằn thâm sâu trên trán Mẹ, và Mẹ phải chua xót, đau đớn nhìn hình ảnh những đứa con Mẹ sau cuộc chiến: "Con què, con quặt, con mù. Con gông, con xích, con tù mục xương. Con câm, con điếc bên đàng. Con thân trâu ngựa, con tàn ma trơi...", và không phải chỉ những đứa con của Mẹ thôi đâu và còn là hình ảnh của những người Cha thương tâm của con Mẹ nữa. Chúng ta hãy chiêm vọng bóng hình một người mẹ cô-phụ ngồi đan áo sau cuộc chiến: "Ngày đông mang gió lạnh về Mẹ ngồi đan áo bên hè lá rơi Ngày đông chất ngất mây trời Mẹ ra gom lá cho mồi lửa lên Ngày đông mưa nhỏ hàng hiên Mẹ mang thùng hứng cho quên nỗi sầu Mẹ làm mọi việc - cha đâu ? -Cha con tù ngục rừng sâu mịt mù !" (Trích Thơ Hoàng Minh Hùng "Ngày Đông") Và chẳng có gì đổi được Tình Mẹ bao la trăm suối nghìn sông, dầu chỉ là một nụ cười nho nhỏ, mộc mạc, đơn sơ trên môi Mẹ hiền, như một nhà thơ đã hoài vọng thiết tha: "Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi Ví mà tôi đổi thời gian được Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười ...." (trích Thơ Trần-Trung-Đạo "Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười") và trong bầu trời thiên-thu đó là những cay đắng, nghiệt ngã trải dài oằn lưng Mẹ, là những khô héo trên đôi tay gầy guộc, những vết nhăn trên trán giữa chợ đời gió bụi, những tàn phai ghi dấu thời gian chịu đựng trên mái đầu phơ phơ bạc, những vết hằn nhẫn nhục trên gò má nhăn nheo, trầu nhai móm mém ... ù ơ võng đời... Trong phồn hoa sôi động, Mẹ như lời kinh khuya . Giữa dòng đời u-muội, hồn Mẹ lúa trổ bông, mái tranh đồng xanh biếc, trúc-họa tình phương Đông. Lòng Mẹ sân thóc rộng, khói lam chiều tỏa hương, sáo diều vương sáo trúc, chim hót cội cương thường. Mẹ là dáng dấp của Quê Hương nghìn trùng yêu dấu, là mãnh đất màu mỡ cho hạt Nhân gieo vãi và nẩy mầm xanh bác-ái, là những chứa chan ký-ức rưng rưng gọi về .... "Buổi chiều gió thổi qua vườn mía Mẹ đứng sau nhà, mắt đỏ hoe Gió đuổi chạy dài trên sóng lá Dòng đời nặng nghiến cuối hàng tre Đã biết bao người không trở lại Nên vườn mía ấy lắm bi thương Đêm đêm trăng giải trên hàng mía Nhạc dế ru buồn lạt tiếng sương ......" (Trích thơ Giang-Hữu-Tuyên "Vườn Mía" trong thi-phẩm "Trời Mưa Đi Phát Báo") Mẹ là bóng mát của dòng sông trí tưởng ngọt ngào và êm ái . Bơi lợi giữa dòng sông sữa Mẹ đó, trong sóng nước bập bềnh của quê nghèo, là những kỷ niệm thơ ấu vàng như mơ, sẽ trở nên chua xót và nghẹn ngào, chẳng bao giờ phai nhòa trong ký-ức của một người con mất Mẹ ..... "Gió gào và gió lặng thinh (Trích thơ Trần-Thanh-Quang "Đưa Mẹ Qua Sông") Khi Mẹ đã vĩnh viễn từ bỏ cái cuộc đời ô trọc, giả tạm, phù phiếm nầy để đi về cõi hư-vô, vào một thế giới khác không còn hận thù, oán ghét, giả dối chia rẽ, và đố kỵ , gia-tài Mẹ để lại cho con không là của cải ngọc ngà châu báu ngàn cân, không là những danh cao tước trọng bổng lộc tràn đầy, mà Mẹ đã để lại cho con một món quà cao quí: đó là một bông hoa từ-ái, một tấm lòng vô-ngã, một tâm hồn vị-tha, một tình thương yêu dân tộc và quê-hương nồng nàn, thắm thiết. Món quà đó là hành trang theo chân những người con tha-phương ở khắp chân trời góc bể. "Khi xưa Mẹ dặn con rằng, quê người tráng lệ đâu bằng quê con, con đi mắt mẹ mỏi mòn, trông con chim nhỏ có còn nhớ Quê ? ..." "Quạnh vắng giờ đây bên bờ đất khách (Trích thơ Trang-Thúy-Quỳnh "Tâm Tình Với Mẹ") Có những nhà thơ đã dùng thiền-ngữ khéo léo, sâu sắc, lồng vào cái thiền-lý thâm thúy, bao la, vượt ra ngoài hình-tượng (siêu-dĩ tượng ngoại), để diễn tả hình ảnh của người Mẹ, ở trong cái vũ trụ thường-hằng bất biến, vô thủy vô chung này. "Mẹ từ cõi ấy, về xây hình hài " (Hằng-Hà-Sa). Cái hình-hài ấy đã được mẹ cưu mang chín tháng mười ngày cho đến giờ khai hoa nở nhụy ... một hành-trình của gian-nan, chịu đựng, nhọc nhằn, đau khổ... "Niềm vui vừa chợt đó, Chắp nối nỗi lo rồi ..." đó là ba ân đức đầu tiên của Kinh Báo Ân Cha Mẹ : " Ta từ quá khứ Vô minhHình hài tạo dựng, xa cành Vô ưu ! Cõi nào Mẹ đến, an cư Cõi nào, em gặp Vô tư, Vô thường. Mẹ ra cõi ấy, mưa tuôn Em vào cõi ấy, xót thương hình hài ! Ta về từ cõi tương lai Nhìn em, nhìn mẹ, luân hồi kiếp sau" ( Thơ Hằng-Hà-Sa "Luân-Hồi Cõi Ấy") Phải chăng "Thơ là chiếc áo gấm thêu hoa của thiền-khách, thiền là chiếc dao gọt ngọc của thi-gia ?" '' Trên thế gian nầy có nhiều kỳ quan nhưng trái tim của Mẹ mới thật là đệ nhất kỳ quan. Vì trái tim của Mẹ là một thứ kỳ quan sống động linh hoạt. Trong khi các kỳ quan khác đều chết đứng bất động. Đối với kỳ quan nầy chúng ta không cần phải phí công tốn của để tìm kiếm quan chiêm, vì chính kỳ quan tuyệt bích ấy đã ở trong ta từ lúc mới tượng hình, và theo năm tháng kỳ quan nầy lại càng trở nên kỳ ảo, vĩ đại, vô tiền khoáng hậu." (Trích bài "Tình Mẹ của HT Thích-Hộ-Giác) . Trái tim đó là cung đàn muôn điệu, là nhịp thở của nhân-sinh, tâm niệm của tình thương, là nguyên-lý huyền nhiệm, là mảnh đất của trung-nghĩa và đạo hạnh: Con đứng trên mầm sống mới ("Con Đứng" của HT Thích-Thiện-Hữu) Và trái tim Mẹ bao dung nhân hậu đó chỉ có bốn ngăn thôi, và bốn ngăn đó là bốn mùa hiu hiu gió, man mác lời mẹ ru con ngủ, thoang thoảng hương thơm của bốn loài thụy-thảo: mai, lan, trúc, cúc; là bốn phương trời đau đáu ánh mắt mẹ hiền dõi trông bước chân phiêu bạt của người con du-tử. Bốn ngăn tim đó chứa đầy bốn thể-tánh vô-lượng của đất trời : Từ, Bi, Hỉ, Xả. Mẹ phải là một kỳ-quan vô-giá, kỳ- diệu nhất trong vũ-trụ vô thường và hữu hạn nầy... "Thôi hết rồi kỳ quan tuyệt vời nhất Nơi viễn phương màu nắng cũng hoang sơ Thành phố buồn từ khi xa vắng Mẹ Trong lòng con hiu hắt cả trời thơ " (trích Thơ Thái-Tú-Hạp "Thành Phố Buồn Từ Khi Xa Vắng Mẹ")
1- Bøản dịch của Lương Thúc Ký : Mảnh áo thân con trẻ 2- Bản dịch của Lê-Nguyễn-Lưu: Áo ấy thân con mặc Chỉ này tay mẹ khâu Con đi mẹ nhíp kỹ Mẹ sợ con về lâu.... Ai rằng lòng tấc cỏ Đền được ánh xuân đâu ! 3- Bản dịch của Khương-Hữu-Dụng: Sợi chỉ trên tay mẹ Tấm áo trên mình con Kịp đi khâu nhặt mũi Sợ về còn chậm chân Ai bảo lòng tấc cỏ Báo được ánh ba xuân ? 4- Bản dịch của Trần-Trọng-San: Mẹ hiền sợi chỉ cầm tay Khâu lên tấm áo trước ngày con đi Đường kim khăng khít chinh y Sợ con chậm trễ không về lại ngay Ai rằng tấc cỏ lòng này Mà đền đáp nỗi ánh trời ba xuân ? 5- Bản dịch của Trần-Trọng-Kim Mẹ từ sợi chỉ trong tay Trên mình du tử áo may vội vàng Sắp đi mũi chỉ kỹ càng Sợ con đi đó nhỡ nhàng trễ lâu Chút lòng tấc cỏ dễ đâu Bóng ba xuân đáp ơn sâu cho người 6- Bản dịch của Vương-Hồ Trên tay sợi chỉ mẹ cầm Thương con áo mỏng âm thầm mẹ may Đường kim ấp ủ thân nầy Đi lâu chắc Mẹ quắt quay tháng ngày Lòng son tấc cỏ có hay Nắng ba xuân đủ đong đầy ơn sâu? 7- Bản dịch của Đinh-Vũ-Ngọc: Mẹ hiền sợi chỉ trên tay Khâu vào thân áo con ngày ra đi Chỉ khâu cẩn thận từng li Ư chừng mẹ sợ con đi quên về Tấm lòng một tấc cỏ quê Ánh ba xuân ấy dễ chi báo đền 8- Bản dịch anh-ngữ của Jennifer Hsu: Song of a Roamer The threads in the hand of a loving mother The clothes for her son going on a long journey Tightly stitched before he takes his leave For fear that he would be late in coming home How could the heart of a blade of grass ever repay The warmth that the sun imparts to it in the spring ? 9- Bản phỏng-dịch anh ngữ (vô danh) A Roamer's Song My benevolent mother With thread and needle in hand Mends the garment I have on, Ere I leave my native land. More stiches, ere I take leave To hold the seams firm and fast As itinerant worker, To come home I 'd be the last With what can I repay Ma ? Whatever others may say, For what she has done for me, Her, I can never repay !
HẢI ĐÀ |