PHONG KIỀU DẠ BẠC
|
|
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên Trương Kế (*) |
|
Đêm Neo Bến Phong Kiều 1 Trăng tà quạ rúc trời đầy sương Cây im lửa đóm người nằm suông Cô Tô bến lặng đêm già nửa Chùa cổ Hàn Sơn vẳng tiếng chuông 2 Trăng tà quạ rúc trời sương Cây im lửa đóm nằm suông hững hờ Nửa đêm neo bến Cô Tô Hàn Sơn vẳng tiếng chuông chùa buồn tênh Phạm-Vũ Thịnh - Sydney 16/11/1996 Quạ kêu, trăng lặn, sương mù Ngọc Ẩn - Tokyo 2001 |
Đêm Neo Bến Phong Kiều 1 Lập lòe ánh lửa bến sông xa Cô Tô quạnh quẽ bên chùa vắng Văng vẳng hồi chuông khách thẫn thờ ... 2 Trăng tà, ánh lửa bập bùng bến sông Cô Tô thuyền đậu giữa dòng Tiếng chuông rền rĩ chùng lòng khách thơ Hải Đà Trăng lặn, sương tàn, tiếng quạ kêu Vương-Hồ |
|
Bản dịch Tản Đà :Trăng tà tiếng quạ kêu sương Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ Thuyền ai đậu bến Cô Tô Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San Bản dịch Trần Trọng Kim :Quạ kêu trăng lặn sương rơi Lửa chài cây bãi đối người nằm co Con thuyền đậu bến Cô Tô Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn Bản dịch Ngô-Tất-Tố: Quạ kêu sương tỏa trăng lui Đèn chài cây bến đối người nằm khô Chùa đâu trên núi Cô Tô Tiếng chuông đưa đến bên đò canh khuya Bản dịch Bùi Khánh Đản: Trăng lặn sương mờ nghe tiếng quạ Lửa chài cây ánh giấc chưa yên Cô Tô bên mái Hàn sơn tự Đêm muộn chuông ngân vẳng đến thuyền Bản dịch Trần Trọng San :Quạ kêu trăng lẩn sương trời Buồn hiu giấc ngủ lửa chài bến phong Đêm Cô Tô vẳng tiếng chuông Chùa Hàn Sơn đến thuyền sông Phong Kiều Bản dịch Đinh-Vũ-Ngọc :BAN ĐÊM ĐẬU THUYỀN Ở BẾN PHONG KIỀU Quạ kêu, Sương phủ, Trăng thâu Lửa chài, Cây bến lặng sầu trong mơ Cô Tô, Chùa vắng khuya mờ Tiếng chuông tìm viếng khách thơ trong thuyền Bản dịch Ngô-Văn-Phú: Quạ kêu, trăng xế ngang đầu Lửa chài cây bến gối sầu ngủ mơ Thuyền ai ngoài bến Cô Tô Nửa đêm lạnh tiếng chuông chùa Hàn san .... |
Bản dịch Lê-Nguyễn-Lưu: Sương mờ, quạ giục ánh trăng phai Cây bến sầu mơ ngọn lửa chài Ngoài ngõ Cô Tô chùa núi Lạnh Nửa đêm chuông vọng tới thuyền ai Bản dịch Ái Cầm: THUYỀN ĐẬU BẾN PHONG KIỀU Quạ kêu trăng khuyết trên cành sương Đốm lửa hắt hiu giữa đêm trường Cô Tô thuyền đỗ sầu in bóng Hàn Sơn Chùa vọng tiếng chuông ngân Trăng khuyết trên cành sương quạ kêu Lửa chài sông quạnh bến cô liêu Cô Tô thuyền đậu trong đêm vắng Chuông Hàn Sơn động sóng đìu hiu Bản dịch Nguyễn Khuê: Trăng lặn quạ kêu trời phủ sương Lửa chài cây bến giấc sầu vương Chùa Hàn ngoài ải Cô Tô vắng Thuyền khách đêm khuya vẳng tiếng chuông Bản dịch KD: Trời sương, trăng lặn, quạ kêu luôn Ngủ đối cầu phong lửa cá buồn Thuyền đậu thành Tô chùa núi Lạnh Nửa đêm chuông nện tiếng boong boong A NIGHT-MOORING NEAR MAPLE BRIDGE 1. Witter BynnerWhile I watch the moon go down, a crow caws through the frost; Under the shadows of maple-trees a fisherman moves with his torch; And I hear, from beyond Suzhou, from the temple on Cold Mountain, Ringing for me, here in my boat, the midnight bell. 2. UnknownMoon sets, crows cry and frost fills all the sky; By maples and boat lights, I sleepless lie. Outside Suzhou Hanshan Temple is in sight; Its ringing bells reach my boat at midnight. |
|
(*) Tác giả : Trương Kế tự là Ư Tôn, người Tương Châu tỉnh Hồ Bắc. Năm 14 niên hiệu Thiên Bảo đời Đường Huyền Tông (756), thi đậu tiến sĩ. Từng giúp việc quan trong mạc phủ, và làm chức Diêm thiết phán quan. Cuối đời Đại Lịch, đời Đường Đại Tông, vào triều làm chức Tự bộ viên ngoại lang. Rồi ra coi việc tài phú tại Hồng châu, và mất tại đây. |
|
|